NHÀ Ở XÃ HỘI VIỆT NAM - BỘ MÔN KIẾN TRÚC CÔNG NGHIỆP - ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

Ngày 27/03/2019
Thực trạng đời sống CN các KCN ở Hà Nội và các tỉnh lân cận: Nhà ở, sinh kế và cộng đồng- Một số kiến nghị, đề xuất
05/01/2019
Môi trường sống và nhà ở cho người lao động trong các khu công nghiệp là một vấn đề nóng tại các khu vực phát triển nhanh ở Việt Nam. Bài viết này trình bày quan điểm của tác giả về các góc nhìn liên quan đến tình trạng nhà ở, môi trường sống, quan hệ cộng đồng của công nhân tại Khu công nghiệp Thăng Long (Đông Anh, Hà Nội) và các khu công nghiệp lân cận.

Tóm tắt: Môi trường sống và nhà ở cho người lao động trong các khu công nghiệp là một vấn đề nóng tại các khu vực phát triển nhanh ở Việt Nam. Bài viết này trình bày quan điểm của tác giả về các góc nhìn liên quan đến tình trạng nhà ở, môi trường sống, quan hệ cộng đồng của công nhân tại Khu công nghiệp Thăng Long (Đông Anh, Hà Nội) và các khu công nghiệp lân cận. Tác giả tập trung vào những thách thức và đó là nguyên nhân liên quan đến sinh kế, nhà ở và điều kiện sống của người lao động tại khu công nghiệp. Bài viết đưa ra một số gợi ý về quy hoạch, xây dựng nhà ở, tạo môi trường sống và sinh kế phù hợp với nhu cầu của người lao động trong các khu công nghiệp ở Hà Nội và các khu vực lân cận. Ngoài ra, bài báo cũng chia sẻ một số thông tin và kinh nghiệm của Trường Cao đẳng Kỹ thuật - Kỹ thuật Bắc Thăng Long (BTL) thu được thông qua dự án hỗ trợ lao động nữ di cư do tổ chức Plan International tài trợ. Mục tiêu của dự án là tạo ra công ăn việc làm bền vững và nhà ở an toàn cho lao động nữ di cư đang làm việc tại Khu công nghiệp Thăng Long. Hy vọng rằng thông tin, kinh nghiệm và kiến ​​nghị được chia sẻ trong bài viết sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho hội thảo.


Nhà ở cho công nhân KCN Bắc Thăng Long, Hà Nội 
 

Kính thưa hội thảo,

Phải nói ngay tôi vốn là người không có chuyên môn liên quan đến lĩnh vực kiến trúc – xây dựng. Có lẽ do đặc thù công việc của tôi nhiểu năm nay có nhiều hoạt động gắn bó với cộng đồng dân cư – công nhân KCN Thăng Long (Đông Anh, Hà Nội) nên có ít nhiều hiểu biết về đời sống của CN các KCN ở Hà Nội và các tỉnh lân cận. Nhận lời mời của BTC có mặt trong Hội thảo này, tôi hy vọng có thể cung cấp thêm thông tin thực tiễn góp phần vào sự thành công của hội thảo, nhưng cũng mong được cảm thông bởi cách nhìn của một người ngoại đạo trong lĩnh vực kiến trúc – xây dựng.
Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Thăng Long (BTL) là một cơ sở GDNN công lập được thành lập từ 2002 trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Dạy nghề Bắc Thăng Long. Trung tâm này được xây dựng bởi nguồn tài trợ của KCN Thăng Long (Thanglong Industry Park- TLIP) nhằm mục tiêu đào tạo nghề cho thanh niên địa phương, cung cấp lao động cho các DN thuộc TLIP. BTL là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoàn toàn về chi thường xuyên ngay từ 2002 nên không hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước cấp mà nguồn thu hoàn toàn từ học phí của người học, các HĐ đào tạo cho DN, nguồn thu dịch vụ - SXKD liên quan đến các ngành nghề đào tạo của trường và các nguồn tài trợ khác. Chiến lược phát triển nhà trường là đào tạo gắn bó chặt chẽ với nhu cầu của người học, nhu cầu tuyển dụng của DN. Trong nhiều năm, BTL đã vận hành hiệu quả mô hình đào tạo cho CN các KCN, tạo việc làm cho HSSV ngay từ khi nhập học. Qua đó trường đã giúp hơn 12.000 thanh niên trẻ có hoàn cảnh khó khăn có được việc làm tại các KCN đồng thời tiếp cận được các chương trình đào tạo chính quy, VLVH từ bậc TC đến CĐ-ĐH. Chính vì đối tượng đào tạo đặc biệt như vậy nên BTL cũng đã thu hút được một số dự án hỗ trợ từ các NGOs như: WUSC, CACC (Canada): Dự án nâng cao năng lực cơ sở dạy nghề nhằm hỗ trợ thanh niên có hoàn cảnh khó khăn tìm kiếm cơ hội học tập, việc làm và khởi nghiệp thành công; PLAN International: Dự án tạo việc làm bền vững và nơi ở an toàn cho nữ thanh niên nhập cư về Hà Nội.
Từ những hoạt động thực tiễn trên cùng với quan sát cá nhân, tôi xin được nêu ra một số nhận định về thực trạng đời sống của CN các KCN tại Hà Nội và các tỉnh lân cận:
 
1. VỀ SINH KẾ
Chúng ta có thể nhìn qua thực trạng về lao động và việc làm tại các KCN:
- Hầu hết CN trong các KCN đều làm việc trên các dây chuyền lắp rắp thiết bị. Phần lớn được tuyển dụng với yêu cầu chuyên môn đơn giản: Tốt nghiệp THPT. Chỉ một số ít vị trí quản lý hoặc KTV bảo trì bảo dưỡng thiết bị mới cần LĐ qua đào tạo ở trình độ cao hơn (ĐH, CĐ, TC). Họ chỉ cần trải qua khóa ĐT ngắn và thực hành trực tiếp trên dây chuyền sản xuất dưới dự hướng dẫn của các Leaders là có thể đảm nhiệm công việc với mức lương ban đầu từ hơn 4 triệu đồng/tháng. Điều quan trọng nhất với người CN là ý thức, tác phong lao động công nghiệp: tuân thủ kỷ luật lao động, các quy trình quản lý chất lượng (ISO, 5S…) và các quy định, nội quy khác.
- 70% CN tại KCN Thăng Long (và các KCN lân cận) là nữ. CN nữ luôn được ưu tiên tuyển dụng vì nhiều lý do: chăm chỉ, kiên nhẫn, khéo léo, ít phản kháng…
- Độ tuổi tuyển dụng: 18-23 tuổi.
- Đa số CN tại các KCN là người nhập cư (di cư đến từ các địa phương khác).
- Thời gian làm việc tại các KCN của hầu hết LĐ chỉ khoảng 5-10 năm. Chỉ một số ít được tiếp tục đào tạo và thăng tiến trở thành quản lý, còn hầu hết họ sẽ phải tìm kiếm những cơ hội việc làm khác ngoài KCN do: không chịu được áp lực công việc, bị xa thải, hoặc xin nghỉ việc khi có con nhỏ… Văn phòng đăng ký trợ hưởng cấp thất nghiệp đặt tại chính trường BTL là một trong những điểm đăng ký thụ lý hồ sơ nhiều nhất thành phố.

Giải quyết việc làm ổn định, bền vững cho CN KCN sau khi mất việc đang ngày càng trở thành một thách thức rất lớn đối với các nhà hoạch định chính sách và với xã hội. Điều này càng trở nên đặc biệt đáng quan tâm trong bối cảnh tác động của Cách mạng 4.0 với sự gia tăng tự động hóa trong các dây chuyền sản xuất nhằm cắt giảm chi phí nhân công (đang ngày một tăng ở VN) và giảm phụ thuộc vào nguồn cung lao động trong nước (hiện nay DN đang rất thiếu lao động – cả lao động phổ thông và lao động qua đào tạo).
Có thể thấy rõ rằng, việc làm đối với các lao động phổ thông, trình độ tay nghề thấp tại các KCN đang tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ bất ổn định cho chính bản thân họ và cho xã hội. Họ có nguy cơ mất việc cao ở độ tuổi 30-35. Đây lẽ ra là độ tuổi trưởng thành trong nghề nghiệp (với những người lao động làm việc ở những vị trí việc làm đòi hỏi kiến thức, kỹ năng, tay nghề cao). Mất việc ở độ tuổi này không những làm lãng phí năng lực của người lao động mà còn đặt người lao động vào hoản cảnh khó khăn: rất khó học nghề và tìm kiếm nghề mới do năng lực nhận thức, sức khỏe và sức ép gánh nặng tài chính cho gia đình, con cái…
Câu hỏi đặt ra là CN trong các KCN có nhận thức được nguy cơ này với họ không? CÓ – họ và gia đình họ nhận thức được điều đó.
Vậy tại sao họ không chủ động lựa chọn một hướng đi tốt hơn? Tại sao họ không bắt đầu bằng việc học một nghề phù hợp để tìm kiếm việc làm bền vững hơn? Câu trả lời, theo tôi, nằm ở tương quan năng lực cạnh tranh giữa các DN FDI và các DN trong nước. Làm việc cho các DN FDI tại các KCN thì không cần học nghề, có ngay mức lương 4-5 triệu/ tháng (thậm chí thu nhập có thể đạt 5-7 triệu/ tháng); các chế độ về bảo hiểm, khám sức khỏe, môi trường làm việc, danh tiếng của DN… cơ bản đều tốt hơn DN trong nước. Trong khi đó, phải học nghề (1-2 năm) để làm việc cho DN trong nước (hầu hết là các DN nhỏ và vừa, sản xuất – kinh doanh trong một số lĩnh vực ngành nghề cụ thể) với mức lương khởi điểm thấp hơn (3-3,5 triệu/tháng) với nhiều thua thiệt hơn về môi trường làm việc, chế độ phúc lợi, danh tiếng của DN… Tất nhiên sau 10 năm thì thu nhập có thể sẽ cao hơn khi làm cho DN FDI và công việc ổn định hơn, nhưng nếu chúng ta là người mới tốt nghiệp THPT ra trường (với điều kiện kinh tế không mấy khá giả) thì ta sẽ lựa chọn hướng đi nào khi các DN FDI lớn đưa xe đến tận nhà mời chúng ta đi làm?!
Quay lại vấn đề giải quyết việc làm bền vững cho LĐ sau khi mất việc/ sắp mất việc tại các KCN? Cách nào để đem đến cơ hội học nghề mới cho họ? Cơ hội việc làm nào trong cho họ ở các DN trong nước? Đây là những câu hỏi lớn đạt ra cho chúng ta. Lưu ý rằng, rất nhiều LĐ sau khi nghỉ việc tại KCN đã và đang việc làm trong chuỗi cung ứng các dịch vụ xung quanh các KCN; nhiều người cũng đã nỗ lực học tập để theo đuổi ngành nghề mà họ yêu thích để tìm kiếm cơ hội việc làm tốt hơn (dự án của PLAN tại BTL có nhiều minh chứng cho điều này); Và cũng có không ít người quay về quê hương, tìm lại cơ hội nghề nghiệp trên chính vùng quê của họ.
 
2. VỀ NHÀ Ở
Tại KCN Bắc Thăng Long, TP. Hà Nội đã đầu tư ngân sách xây dựng một tổ hợp chung cư phục vụ nhu cầu ở cho CN của TLIP. Và đây là một trong những dự án chung cư cho CN KCN hiếm hoi mà nhà nước đầu tư xây dựng. Ban đầu dự án này có chủ trương xã hội hóa bằng việc dành ra 30% (?) quỹ đất dành cho thương mại đổi lấy 70% (?) quỹ đất xây chung cư, nhưng 2 lần khởi công mà vẫn không triển khai được. Cuối cùng, TP. Hà Nội quyết định đầu tư ngân sách xây dựng và giao cho Cty Nhà HN quản lý, khai thác.
Về cơ bản, các chung cư này cũng đã được một số công ty thuộc TLIP thuê cho CN ở, nhưng cũng nhiều diện tích hiện nay còn bỏ trống mặc dù giá cho thuê không cao (120.000/ người/ tháng). Nguyên nhân chính là: i) Kết cấu các căn hộ không phù hợp với cuộc sống của các gia đình công nhân: phòng được thiết kế kiểu KTX với sức chứa 6 – 18 – 24 người/ phòng, có gian khách, vệ sinh và bếp dùng chung cho mỗi phòng ở. Kết cấu này không phù hợp với mô hình gia đình nhỏ (3-5 người); ii) Dịch vụ điện, nước, vệ sinh không được tốt do xuống cấp và chậm sửa chữa (cơ chế DN nhà nước, không được giao quyền chủ động); iii) Cơ chế quản lý chưa phù hợp với nhu cầu thực tế…
Theo tôi được biết, sau dự án này, TP. Hà Nội không tiếp tục đầu tư ngân sách xây chung cư cho các KCN nữa. Thay vào đó, Nhà nước khuyến khích các DN FDI dành quỹ đất tự đầu tư chung cư cho CN của mình.
Một số DN lớn có cách làm thông minh hơn như Samsung. Ban đầu, họ cũng xây một khu chung cư cho CN (không lớn lắm tính theo quy mô lao động) tại Bắc Ninh. Sau này, khi nhu cầu tuyển dụng LĐ gia tăng rất lớn, họ xây dựng hệ thống xe bus đưa đón CN với số lượng hàng ngàn xe chạy khắp các tỉnh lân cận 2 nhà máy lớn ở Bắc Ninh, Thái Nguyên để dễ dàng tuyển dụng thêm rất nhiều lao động từ các địa phương khác về làm việc (mà không phải di cư àkhông phải xây thêm chung cư). Chi phí đi lại được công ty đài thọ.
Xung quanh KCN Thăng Long và các KCN lân cận khác đã từ lâu hình thành dịch vụ cho thuê nhà được cung cấp bởi người dân địa phương (trước cả các dự án chung cư cho CN các KCN do nhà nước/ DN đầu tư). Về cơ bản, hiện nay dịch vụ này đã đáp ứng đủ nhu cầu thuê nhà của CN các KCN. Tuy nhiên mô hình này cũng có nhiều bất cập như: thiếu quy chuẩn trong xây dựng ảnh hưởng lớn đến quy hoạch dân cư nông thôn (sắp tới cũng trở thành đô thị); nhiều khu trọ không gian sinh hoạt chật hẹp, chưa đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn cháy nổ; giá cả, chất lượng các dịch vụ điện, nước, vệ sinh môi trường, an ninh, môi trường sống còn nhiều bất cập; thiếu hụt không gian phục vụ cho các nhu cầu của đời sống tinh thần: học tập, TDTT, vui chơi giải trí, tâm linh…

Từ những quan sát trên có thể rút ra mấy nhận xét:
- Đầu tư ngân sách nhà nước để xây dựng chung cư cho CN các KCN là cách làm chưa đem lại hiệu quả cao.
- Cần xây dựng các tiêu chuẩn riêng cho việc xây dựng nhà trọ/ chung cư dành cho CN các KCN phù hợp với thực tế điều kiện thu nhập và nhu cầu sinh hoạt của đối tượng thuê nhà.
- Nên chăng có cơ chế hỗ trợ (vay vốn lãi xuất thấp, cho thuê đất…) cho người dân cung cấp dịch vụ nhà trọ cho CN các KCN nhằm mục tiêu: bảo tồn vốn nhà nước; dùng ngay quỹ đất thổ cư của người dân, tiết kiệm quỹ đất; tạo sinh kế cho người dân địa phương mất đất nông nghiệp xây dựng KCN; qua đó quản lý được tiêu chuẩn xây dựng nhà trọ, đảm bảo điều kiện sinh sống của CN KCN thuê nhà…
- Cần dành quỹ đất cho các không gian công cộng (giao thông, trường học, bệnh viện, nhà trẻ, khu vui chơi giải trí, khu văn hóa tâm linh…) trên cơ sở dự báo chính xác quy mô phát triển dân số (cả tự nhiên và cơ học) để đảm bảo cơ sở hạ tầng không bị quá tải. Trong đó cần đặc biệt chú ý quy hoạch phát triển các trường học phục vụ nhu cầu học tập của con em CN KCN và nhu cầu học tập, chuyển đổi nghề nghiệp của chính họ sau khi kết thúc thời gian làm việc tại các KCN.
 
3. VỀ CỘNG ĐỒNG
Với đặc thù đa số CN làm việc trong các KCN là người nhập cư, nên việc tạo ra một môi trường sống an toàn, thân thiện, bình đẳng cho họ cùng với người dân địa phương là hết sức cần thiết.
Với quy định của Pháp luật hiện hành, việc quản lý nhân thân vẫn căn cứ nhiều vào Hộ khẩu thường trú, thì địa vị pháp lý của người dân phụ thuộc rất nhiều vào chính quyền địa phương nơi họ đăng ký HKTT. Điều này cũng gây không ít khó khăn cho những CN di cư đến làm việc tại các KCN xa quê.
Các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch kết cấu hạ tầng, các chính sách an sinh xã hội của các địa phương thường chưa quan tâm nhiều đến lực lượng lao động di cư này, mặc dù họ có đóng góp không nhỏ với sự phát triển của địa phương.
Tại BTL đã và đang triển khai dự án “Tạo việc làm bền vững và nơi ở an toàn cho nữ thanh niên nhập cư về Hà Nội” với sự tài trợ của PLAN Australia. Mục tiêu của dự án là dạy nghề và các kỹ năng sẵn sàng làm việc cho 600 nữ thanh niên nhập cư về HN trong độ tuổi 18-30 nhằm giúp họ tìm kiếm được việc làm bền vững và có được nơi ở an toàn tại Hà Nội. Dự án cũng hỗ trợ khởi nghiệp cho 100 HV tham gia các khóa học nghề.
Đối tượng chính mà dự án hướng đến là các nữ CN nhập cư tại TLIP và các KCN lân cận – những người đang phải đối mặt đến nguy cơ mất việc làm, nơi ở không an toàn tại các KCN trên địa bàn HN. Mặc dù việc dạy nghề và kỹ năng sẵn sàng làm việc là hoàn toàn miễn phí nhưng dự án đã phải trải qua giai đoạn đầu hết sức khó khăn khi nhiều HV không cam kết dành đủ thời gian học nghề và quyết tâm chuyển sang nghề nghiệp mà mình yêu thích trong khi áp lực thu nhập vẫn đang đeo bám họ. Đồng hành cùng dự án gần 3 năm, trường BTL cũng đã có nhiều đóng góp tích cực với dự án và bước đầu hình thành một hướng đi mới: triển khai các dự án vì cộng đồng, đặc biệt chú trọng hỗ trợ đối tượng lao động di cư, trong đó số đông là các CN đã và đang làm việc tại các KCN của Hà Nội.
 
Kính thưa hội thảo,

Quy hoạch kết cấu hạ tầng cho lao động nhập cư tại các KCN luôn là vấn đề nóng không chỉ của Hà Nội mà đã trở thành vấn đề nóng của tất cả các địa phương thu hút nhiều đầu tư FDI.
Nói rộng hơn nữa, vấn đề lao động di cư đã vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ, quốc gia. Hiện nay nhiều nước phát triển đang phải xem xét điều chỉnh lại các chính sách thắt chặt nhập cư để tạo động lực phát triển cho nền kinh tế (Đức, Nhật, Hàn Quốc…). Để khai thác được sức mạnh của nguồn lực to lớn này, cần một hệ thống đồng bộ các giải pháp, trong đó bao gồm các chính sách quy hoạch kết cấu hạ tầng phục vụ cho đời sống của người dân nhập cư.
Những ý kiến nêu trên hoàn toàn là quan điểm cá nhân. Với ý thức mong muốn được học hỏi, chia sẻ, tôi rất mong có được sự quan tâm góp ý của các nhà khoa học, chuyên gia.
Xin trân trọng cảm ơn!
 
TS. Phạm Quang Vinh,
Hiệu trưởng trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Thăng Long,
Bài viết tại Hội thảo”Nơi ở CN KCN: Nhà ở, Sinh kế và Cộng đồng”, Hà Nội, 12/12/2018 

Liên kết website